Giảng Pháp Đầu Tiên Tại Mỹ Quốc

Tại Vùng Vịnh San Francisco

 

 

 

.

 

 

Lư Hồng Chí

Ngày 5 tháng 10 năm 1996

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản dịch từ tiếng Anh

(Bản Thảo)


Tôi sẽ ngồi đây để mọi người có thể thấy tôi.  (Vỗ tay)

 

Từ xa xôi nhiều người đă vội vă đến đây và lái xe từ sáng sớm hôm nay.  Tôi biết hiện nay ở đây có nhiều người đang tu luyện và tôi cũng muốn đến Mỹ Quốc để xem.  V́ nhiều lư do khác nhau mà tôi không có cơ hội đến đây.  Lần này tôi có thể gặp chư vị và đây cũng là v́ nhân duyên.   Học được công pháp này cũng là v́ nhân duyên.  (Vỗ tay)  Tôi dự định đi giảng ở Houston [Texas, Mỹ Quốc] để gặp thêm nhiều người nữa ở Mỹ Quốc, trên đường đi tôi ghé ngang đây để gặp chư vị trước.  (Vỗ tay)

 

Kiến thức của chư vị về pháp môn này và về Pháp này th́ khác nhau, hiểu biết của chư vị cũng thế.  Nhưng dù là trường hợp nào, bởi v́ điều mà tôi truyền là một môn tu luyện của Phật Gia, nên tôi sẽ dùng một số danh từ của Phật Gia: thọ được Pháp chính là v́ nhân duyên.  Bây giờ chư vị không biết nó trân quư thế nào.  Khi chư vị nhận ra rằng nó trân quư, chư vị sẽ cảm thấy là may mắn nhất.  Thật ra, các nguyên lư này và những điều chỉ đạo con người tu luyện mà tôi giảng chưa có ai từng giảng ra công chúng từ hơn hằng trăm hay hằng ngàn năm qua, đến cả từ các niên đại xa xưa.  Trong toàn lịch sử chưa có ai giảng về những điều này.  Khi chúng tôi nói về tu luyện, chư vị sẽ nghĩ đến nhiều người tu luyện trong quá khứ trong môi trường đặc thù ở Trung Quốc.  Thật ra th́ những người tu luyện đó vẫn c̣n đó, và có rất nhiều người tu luyện rải rác khắp nơi trên toàn thế giới.   Luôn vẫn có người tu luyện những nơi vắng người và tất cả những người này cũng khá già rồi.  V́ để tránh xa thế tục và không liên hệ với người thường, cho nên người thường không biết về họ.

 

Khoa học và kỹ thuật hiện đại đang phát triển, và khi con người càng chú trọng vào những điều thực tại, th́ lịch sử chân chính của con người và những điều chân thật đang dần dần bị loại bỏ qua một bên.  Trong thời hiện đại, mỗi khi người ta nói về những điều này, luôn luôn dường như là họ nói chuyện hoang đường, nhưng trên thực tế th́ họ không nói thế.  Tại sao các tôn giáo chính thống và nhiều truyền thuyết cổ xưa đă tồn tại hằng bao nhiêu ngàn năm mà không suy?  Phải có lư do.  Trong xă hội nhân loại b́nh thường, có rất nhiều rất nhiều hiện tượng không giải thích được – và chúng ta gặp, nghe về chúng, hay chính ḿnh tự cảm thấy – và cũng không thể giải thích chúng theo cách nghĩ hay giảng theo lư thuyết của khoa học ngày nay.  Đây chính là v́ khoa học không phát triển đủ, cũng không đạt đến mức độ phát triển cao của nó.  Thật ra, tôi nó rằng những điều đó tất cả đều tồn tại.  Chỉ có là con người ngày nay quá tin tưởng vào khoa học, một khoa học mà không tiến bộ cho lắm, v́ thế mà không thể đột phá không gian này với khoa học để nh́n thấy sự thật.

 

Khoa học và kỹ thuật ngày nay, mặc dù con người nghĩ rằng họ khá phát triển, trên thực tế so với chân lư của vũ trụ th́ phát hiện rằng họ thiếu phát triển.  Con người nghĩ rằng máy điện toàn rất là tiến bộ, nhưng dù nó có phát triển thế nào, thật ra cũng không so sánh được với năo bộ của con người; năo bộ của con người luôn sẽ là một bí mật đối với con người.  Trong tương lai, nhiều người qua chính mính học Pháp và chính ḿnh tu luyện mà khai công khai ngộ, hay Viên Măn, đến lúc ấy th́ sự hiểu biết của họ về sinh mệnh, về vũ trụ và về vật chất sẽ xuyên thấu qua các tầng nhỏ và các tầng bao la rộng lớn.

 

Cũng như chư vị biết, khi nói về vật chất, th́ các lạp tử vi quan mà cấu thành lớp phân tử lớn hơn, tiếp đó lớp lạp tử lớn hơn lại cấu thành lớp phân tử lớn hơn nữa, cho đến khi h́nh thành bề mặt vật chất.  Nó cũng giống như chất nơ-tri-nô cấu thành hạt quark, rồi thành hạt nhân, rồi thành nguyên tử.  Lớp vật chất mà cấu thành phần bề ngoài nhất của con người – là các phân tử ở bên ngoài – là do đủ loại vật chất vi tế hơn cấu thành.  Các khoa học gia ngày nay chỉ biết về cấu kết của các phân tử vi tế - phần nhỏ nhất mà có thể nh́n thấy qua kính hiển vi.  Họ biết về sự hiện hữu của phân tử, sự hiện hữu của nguyên tử, v…v, và đến tận nơ-tri-nô; xâu hơn nữa th́ họ không thấy rơ, dùng dụng cụ cũng thế.  Nếu có một kính hiển vi mà có đủ sức mạnh để trác định cả một vùng bán kính to và nếu những ǵ nh́n thấy được không phải là phân tử hay vài phân tử, thay vào đó mà là một lớp do các hạt tử vi quan cấu thành, th́ có nghĩa là nhân loại đă nh́n thấy các không gian khác.  Bao  nhiêu niên đại mà con người cũng vẫn chưa thoát ra khỏi các ṿng khuôn tư tưởng này, họ chỉ chú tâm quan sát vào một hạt tử hay vài điểm của các hạt tử vi tế.  Họ chưa vượt qua khỏi cái khái niệm theo thói quen và liên kết chúng vào để nh́n thấy toàn bộ của tầng lớp hạt tử vi tế như thế nào.  Đó là những ǵ mà chúng tôi gọi là các không gian khác.  Giản dị như thế.  Hiện tại những điều này chưa được đột phá ra; kỹ thuật hiện đại chưa đạt đến tầng thứ đó.

 

Vừa qua tôi đă dùng tư tưởng và ngôn ngữ của nhân loại hiện đại mà giảng về những điều này, và đây là những điều mà nhân loại muốn biết nhưng không được phép biết.  Chưa có ai đă từng tiết lộ chân lư của vũ trụ cho nhân loại, và trong quá khứ nhân loại cũng không được phép biết.  Nguyên nhân là v́, thể theo luật của thiên đàng, nhân loại từ các thiên giới tại các tầng thứ rất cao đă liên tục rơi xuống nơi xă hội người thường này.  Nói một cách khác,  họ đă rơi xuống quả địa cầu.  Trong giới tu luyện, thuyết tiến hóa của Darwin không được thừa nhận bởi v́ nhân loại không phải tiến hóa từ loài khỉ vượn.  Thật ra, điều mà các sinh mệnh cao hơn nh́n thấy thật sự từ cơ bản th́ khác hẳn.  Những ǵ mà khoa học theo lối kinh nghiệm hiểu ra hiện nay, mà họ cho là đúng, đă tạo ra giả tượng mà nhân loại không dám vạch trần ra.  Con người dường như đă đạt được một số lợi ích thực tại và đạt được một số kiến thức khoa học từ kết quả của các lư thuyết kém cỏi này, nhưng trên thực tế th́ tất cả là phá hoại nhân loại, phá hoại sinh mệnh, phá hoại vũ trụ, và vĩnh viễn không mang được điều ǵ để cho phép nhân loại thăng hoa.  Vậy mà cũng có một số người c̣n bảo tŕ cái gọi là học thức hóa và kiến thức v́ quyền hành của họ, họ c̣n bảo vệ những thứ này để nó không bị lật đổ, chận đứng người khác hiểu biết cao hơn.  Cho nên, những ǵ mà nhân loại biết là sai, nhưng v́ xúc cảm mà họ bảo hộ những hành vi không lư trí đó.  C̣n về chân lư của vũ trụ, con người tự ḿnh phong kính chính ḿnh khỏi chân lư của vũ trụ.  Tu luyện giúp một người thật sự đề cao và người tu luyện có khả năng nh́n thấy và tiếp xúc được với chân lư về sinh mệnh và vũ trụ.

 

V́ nhân loại ngày nay đă bị khoa học hiện đại niêm phong thật kín, các chân lư này đều là “mê tín” đối với họ.  Nhưng đến cả những ǵ gọi là mê tín, một khoa học gia, hay một người có trí tuệ th́ nên tự ḿnh điều tra những điều này để xem tại sao những điều như thế là mê tín và tại sao người ta mê tín; tuy thế hiện tại hầu hết không ai dám đụng chạm đến những.  Tôi nghĩ rằng hoàn cảnh ở Mỹ th́ tốt hơn, bởi v́ ở đây tư tưởng của con người không bị giới hạn cho lắm.  Cũng nói là, cái gông cùm do khoa học hiện đại theo lối kinh nghiệm tạo ta, đă khiến cho nhân loại phong kín tư tưởng của chính ḿnh.  Cho nên rất khó mà biết được sự thật về sinh mệnh, về vũ trụ, và về vật chất. 

 

Một người có thể nh́n thấy được chân lư trong vũ trụ qua tu luyện, nhất là với Phật Pháp.  Nhưng hiện tại con người chỉ tin vào khoa học hiện đại, nghĩ rằng tất cả những điều đó là thuộc về tín ngưỡng hay là tôn giáo chứ không phải là khoa học.  Nhưng trên thực tế đó là cách duy nhất mà con người hiểu được vũ trụ. Chư vị cũng biết, chính ông Einstein lúc tuổi già cũng vào tin tôn giáo.  Nhiều người dựng như họ khá thành công trong khoa học rốt cuộc cũng quay về với tôn giáo.  Họ phát hiện rằng các nguyên lư giảng trong tôn giáo là các chân lư cao hơn.  Hiểu biết của con người là giới hạn và khi những ǵ vượt qua cái kiến thức giới hạn này, th́ khoa học sẽ bất lực.  Mặt khác Phật Pháp giải thích được tất cả hiện tượng trong vũ trụ.  Những người đó đă phát hiện những ǵ chư thần giảng dạy là khoa học cao hơn, v́ thế mà họ quay về với tôn giáo.

 

Tất nhiên, tôi dùng h́nh thức khí công để truyền Pháp này, trên thực tế những ǵ bao gồm trong đó là rất to.  Đây là những điều mà trong lịch sử chưa có ai từng giảng, tuy thế tôi lại tiết lộ ra cho chư vị.  Nếu chư vị có thể chuyên tâm mà đọc sách Chuyển Pháp Luân, chư vị sẽ phát hiện là nó trân quư vô cùng.  Có nhiều và rất nhiều bí mật tiết lộ ra trong đó, đến cả chỉ đọc sơ qua thật nhanh cũng mang lợi ích rất nhiều cho người đọc.  Nói chung, người này [đă đọc sách] sẽ biết làm một con người tốt là sao.  Tuy nhiên, người không muốn tu luyện sẽ không nh́n thấy nội hàm của sách Chuyển Pháp Luân hay các chân lư cao hơn.  Nhưng những ǵ bên trong quyển sách này th́ rất là to lớn và có thể giúp một người tu luyện đến Viên Măn.  Và c̣n hơn đạt Viên Măn nữa – nó cho phép một sinh mệnh thăng hoa đến cảnh giới c̣n cao hơn nữa.

 

Cũng như chư vị biết, tu luyện là khác với giữ ǵn sức khoẻ.  Nếu tôi muốn truyền pháp môn này cho chư vị chỉ là để giữ ǵn sức khoẻ, th́ tôi sẽ không truyền một Pháp to lớn như thế.  Tôi làm chính là v́ tôi muốn tất cả chư vị đắc được Pháp này, là truyền các chân lư của vũ trụ này cho chư vị, là giúp chư vị tu luyện và cải thiện chính ḿnh để chư vị đạt đến các tầng thứ cao hơn và có thể thăng hoa lên được.  Nếu trong tiến tŕnh tu luyện, chư vị làm được những ǵ tôi đề ra, th́ sách này sẽ chỉ đạo chư vị đạt được mục tiêu đó.  C̣n người mà không muốn tu luyện sẽ không thấy được tất cả điều này.  Tại sao họ không thấy được?  Thường th́ khi một người đọc sách lần thứ nhất, họ sẽ phát hiện là sách giảng về các nguyên lư làm người tốt là sao.  Khi họ đọc lần thứ hai th́ không c̣n giống nữa; lúc ấy họ sẽ phát hiện rằng đây là một quyển sách về tu luyện.  Khi họ đọc đến lần thứ ba – khi thật sự có thể đọc sách 3 lần liên tiếp – sau đó có lẽ họ sẽ không muốn bỏ sách xuống.  Họ sẽ cầm sách và đọc mỗi khi họ có th́ giờ, và họ phát hiện đây là một quyển sách siêu phàm.

 

Chư vị cũng biết rằng văn phạm và cấu trúc ngôn ngữ trong sách, nh́n từ quan điểm văn học th́ không hẳn theo tiêu chuẩn.  Bởi v́ ngôn ngữ tiêu chuẩn ngày nay không bao gồm hàm nghĩa thâm xâu được, tôi sữa nó đi và không hoàn toàn dạy theo tiêu chuẩn của văn phạm hiện đại.  Hơn nữa, tôi c̣n dùng khá nhiều tiếng địa phương, bởi v́ ngôn ngữ theo tiêu chuẩn hay các danh từ theo tiêu chuẩn thiếu khả năng giải thích những điều tôi giảng một các xâu xa; c̣n có nhiều danh từ tôn giáo và danh từ dân tộc từ Trung Quốc cổ xưa về tu luyện nữa.  Cho nên để truyền Đại Pháp này, tôi đă dùng ngôn ngữ thông dụng nhất, ngôn ngữ b́nh dân nhất và giản dị nhất.  Những ai có học thức và không có học thức, cả hai cũng đều hiểu được, và cả hai cũng tu luyện được.  Nhưng những ǵ trong sách th́ rất là rất là cao thâm.

 

Chư vị nên biết rằng đây là về tu luyện.  Nếu tôi dạy khí công để giữ ǵn sức khỏe, th́ chỉ dạy về khí công chỉnh lại cách thở và làm cho tâm tĩnh lặng là được rồi; dùng những cách thức đó với mục đích giữ ǵn sức khỏe.  Nhưng nếu một người muốn tu luyện lên các tầng thứ cao hơn, th́ những thứ đó là vô dụng, bởi v́ chúng không thể chỉ đạo con người tu luyện lên các tầng thứ cao hơn.  Cũng giống như đi học; nếu chư vị muốn vào đại học th́ chư vị cần có kinh nghiệm trong trường tiểu học, trung học cấp nhỏ, trung học cấp cao làm căn bản.  Chư vị dùng sách trung học cấp nhỏ để học trung học cấp nhỏ; khi chư vị vào trung học cấp cao, chư vị phải dùng sách trung học cấp cao; cuối cùng khi chư vị vào đại học chư vị học chương tŕnh đại học.  Nếu chư vị dùng sách tiểu học trong đại học th́ chư vị cũng vẫn c̣n là học sinh tiểu học.  Đó là v́ chư vị không học những ǵ của đại học, và khi chư vị chưa học Pháp cao hơn th́ chư vị không thể tu lên cao.  Có nghĩa là để chỉ đạo chư vị tu luyện lên các tầng thứ cao, th́ cần phải có các nguyên lư cao hơn chỉ đạo.

 

Sách Chuyển Pháp Luân có nội hàm của tầng thứ cao như thế, nhưng nó không hiển nhiên đối với người mà chỉ nh́n quyển sách này từ bề ngoài.  Cũng cùng một câu, chỉ sau khi chư vị đề cao rồI, th́ khi chư đọc sách chư vị mới phát hiện rằng câu đó có hàm nghĩa khác với lần trước, và đó là nội hàm tại tầng thứ khác rồi.  Nhất định là như thế.  Không có sách nào làm được như vậy, bởi v́ không có sách nào là sách tu luyện cả và các sách đó chỉ giới hạn trong các lư thuyết của người thường.  Tuy thế Pháp này th́ vượt hẳn các lư thuyết của người thường, cho nên nội hàm là vĩ đại.  Dù sao th́ cũng là về tu luyện.  Phật Giáo gọi là “Tu là tu từ người thường.” ở đây tôi gọi là “Thế Gian Pháp tu luyện”, cũng được gọi là “tu thân” người.  Trong giai đoạn này, mọi mặt của con người đều phải được hoàn thiện.  Trong quá khứ dường như những ǵ đă được ghi vào sách tu luyện đều là về tu thân, dù rằng nó không rơ nhưng cũng đă giảng về những điều này.

 

Nếu một quyển sách chỉ đạo chư vị chỉ trong Thế Gian Pháp tu luyện, th́ chư vị không thể tu vượt ra ngoài Tam Giới.  Cho nên quyển sách đó phải bao hàm các nguyên lư về tu thân người cùng với các nguyên lư của các tầng thứ khác nhau của Tam giới, cho đến các nguyên lư vượt ra ngoài Tam Giới.  Người tu luyện chỉ có thể tu luyện đến một tầng thứ đặc định với sự chỉ đạo của các nguyên lư của tầng thứ đó, và chỉ khi nào có các nguyên lư chỉ đạo cao hơn th́ chư vị mới tu luyện đến các tầng thứ cao hơn.  Nói một cách khác, chính là phải có các nguyên lư vượt ra ngoài Tam Giới chỉ đạo trước khi chư vị có thể tu lên các tầng thứ ở ngoài Tam Giới.  Cũng giống như tôi nói về đi học.  Nếu chư vị không có nội hàm bao rộng chỉ đạo, chư vị không thể tu luyện được – ư tôi giảng là thế.  Pháp mà tôi đang truyền hôm nay th́ khác với những ǵ các thầy khí công truyền, bởi v́ những thầy khí công đó chỉ dạy người ta những ǵ liên hệ về chữa bệnh khoẻ thân.  Ở đây tôi không nói là tầng thứ của các thầy khí công đó không cao, hay nói rằng họ không tốt, v…v.  Ư của tôi không phải thế.  Tôi nói rằng chưa có ai đă từng làm sự việc này.  Tôi biết hiện nay chỉ có một ḿnh tôi làm.  Chư vị đă đọc sách và nhiều người cũng đă biết tôi đang làm ǵ.  Dù là ở Trung Quốc hay trên toàn thế giới, không ai làm sự việc này cả, bởi v́ đây không phải là một chuyện nhỏ.  Đây là dẫn con người lên các tầng thứ cao hơn, v́ thế khi sự việc này bắt đầu, những vấn đề dính líu rất là to lớn.

 

Truyền Pháp chân chính là khó làm.  Chư vị cũng biết, Thời ấy Chúa Jê-su bị đóng đinh vào thập tự giá v́ đă truyền Pháp chân chính.  C̣n Đức Thích Ca Mâu Ni, nhận thấy không có cách nào khác hơn, đă chọn Niết Bàn.  Trong xă hội người thường, có rất nhiều khái niệm và nhiều thế lực con người – cùng với thế lực tôn giáo và rất nhiều rất nhiều các nhân tố khác nữa – những thứ đó đă h́nh thành môi trường tương ứng của nó.  Các nhân tố đó bao hàm chính diện lẫn cả tà diện trong đó, và bên tà diện là lực lượng tà ác.  Trong xă hội con người, cái ǵ cũng bao gồm cái tà trong đó, và cái ǵ tà th́ có thể hại người, khống chế người, công kích người, và ngăn chận con người dùng quyền hành chính trị hay các phương thức khác.  Cho nên truyền Pháp chân chính là khó nhất.  Trớ trêu thay, khi người xấu truyền những môn tà th́ không ai đụng chạm đến họ.

 

Trong tầm nh́n của một vị Phật, tất cả sinh mệnh là đang đau khổ.  Chúa Jê-su giảng rằng: không những chỉ thương bè bạn, mà c̣n phải thương kẻ thù của ḿnh.  Các vị ấy từ bi đối với tất cả sinh mệnh, bởi v́ họ cứu độ con người thế gian.  Thế th́, là một người tu luyện, nếu trong tiến tŕnh tu luyện cá nhân chư vị không thương được người thường mà đă từng công kích chư vị, th́ chư vị không thành Phật được.  Sự thật là thế, bởi v́ người tu luyện là phải từ bi.  Từ bi có nghĩa là gạt bỏ đi tất cả những ǵ trong quá khứ và gạt bỏ những đau khổ của người thường, tức là không dích mắt vào bất cứ điều ǵ có liên hệ với người thường, không truy cầu danh lợi của người thường, buông bỏ chấp trước của con người.  Có nghĩa là xem nhẹ tất cả những ǵ liên hệ với người thường trong khi chư vị tu luyện, thoát ly được khỏi những thứ đó là cách như thế.

 

Tất nhiên, các yêu cầu mà tôi đề ra ở đây có thể hơi cao hơn b́nh thường một chút, bởi v́ điều tôi truyền không phải là khí công b́nh thường mà chư vị t́m nơi người thường.  Đây là tu luyện chân chính, mặc dù nó không tách rời khí công.  Tại sao thế?  Bởi v́ tại một tầng thứ cao, khí công là tu luyện, chắc chắn là thế.  Chỉ có là các môn khí công mà đă được truyền trong xă hội, tất cả đều là tu luyện của tầng thứ thấp nhất – mục đích là để trừ bệnh khỏe thân, không ǵ khác hơn.  Điều tôi truyền là thử thách vô cùng to lớn, cho nên không phải trong một phút nhiệt t́nh mà suy ra và làm được.

 

Khi tôi nói là nó rất khó khăn, tôi nói với chư vị rằng rất khó cho tôi truyền và rất khó cho chư vị đắc được nó.  Nhiều người trong chư vị ngồi đây là v́ duyên phận, có thể là duyên phận rất to.  Một số người có thể nghĩ rằng không có ǵ xẩy ra ở đây là b́nh thường [chư vị có thể nghĩ,] “Tôi t́nh cờ nh́n thấy quyển sách này,”  “Tôi t́nh cờ học Pháp này,”  Tôi t́nh cờ biết có người tập công này,” hay “Tự nhiên tôi bắt đầu học công này sau khi một người bạn giới thiệu cho tôi.”  V́ xă hội người thường ở trong trạng thái mê, không phải như thể là các vị thần đột nhiên bay trên đầu chư vị và bảo chư vị đến học Pháp này.  Không phải thế, bởi v́ làm thế th́ sẽ phá vở cái mê ăo này trong xă hội người thường.  Mê ăo bị phá vở rồi, c̣n ǵ mà ngộ, nên cũng khó mà tu luyện.  Đó là tại sao dường như nhiều người vô t́nh mà gặp, trên thực tế th́ không hẳn là t́nh cờ.

 

Khi tôi nói với các học viên ở Trung Quốc, tôi bảo rằng nhiều người không nhận ra điều này.  Tức là, chư vị có thể cảm thấy rằng, giống như bất cứ điều ǵ trong cuộc sống b́nh thường của chư vị, t́nh cờ chư vị tham dự khóa giảng này, nhưng đúng ra là chư vị đă trải qua bao nhiêu gian khổ để đắc được Pháp này qua mấy đời, hay đến cả chục đời, hay hằng chục đời trước.  (Vỗ tay) Chỉ có là chư vị không biết điều đó thôi.  Một số người phải bỏ cuộc đời của họ để họ có thể đắc được Pháp này.  Trong khi chư vị tu luyện, tôi tha thiết và ân cần dạy bảo chư vị về thiện và chỉ đạo chư vị, bởi v́ tôi biết chư vị là ai trong lịch sử và tôi biết cho chư vị đă hy sinh rất nhiều để đắc được Pháp này hôm nay.  Tôi sẽ làm chư vị thất vọng nếu tôi không dạy chư vị theo cách này.

 

Tất nhiên, điều tôi nói nghe khó hiểu, và nó là cao thâm.  Thật ra khi nhân loại sống trong thế gian này, họ chỉ biết về những ǵ đă xẩy ra trong vài thập kỷ trong không gian hiện hữu này, chỉ biết một chút đó thôi.  Nhưng một đời người không biến mất đi sau khi họ chết.  Đến cả nếu họ rớt xuống địa ngục – đến cả họ rớt xuống đến tầng thứ 18 của địa ngục – cũng vẫn không phải là cuối cùng.  Một sinh mệnh mà phạm tội to lớn sẽ rớt xuống những tầng thấp hơn nữa, nơi đó họ sẽ bị loại trừ và hủy diệt.  Khi một người chết đi, chỉ có cái nhục thể bằng các lớp phân tử kết cấu thành sẽ lột ra, trong khi đó sinh mệnh thật sự của người ấy rời khỏi thân thể trong tíc tắc mà họ chết.  Trước khi chết người ta sợ lắm, nhưng tôi có thể nói với chư vị rằng trên thực tế không có ǵ để sợ cả.  Người ta hễ c̣n cái tâm người th́ sợ chết lắm.  Cái tâm của con người là do các tế bào nhục thể kết hợp, hễ mà nó không c̣n hoạt động nữa, tức khắc người đó cảm thấy như được hồi sinh lại mới, hay giống như được giải thoát – có một cảm giác hưng phấn.  Hơn nữa, thân thể cảm thấy nhẹ nhàng, không bị nhục thể ràng buộc nữa, cho nên tư tưởng của họ hoàn toàn khai mở.  Tất cả những ǵ người ấy làm trong một đời hiện ra dường như là đă xẩy ra chỉ trong một phút vừa qua.  Mỗi một chi tiết sẽ hiện ra trước mắt, không một chuyện nhỏ nào mà quên được, bởi v́ tâm của họ hoàn toàn khai mở.  Trong tíc tắc đó họ sẽ biết ḿnh thật sự là ai, biết được những ǵ họ làm trong đời này là tốt hay xấu; giống như họ vừa tỉnh giấc sau khi ngủ.

 

Tất nhiên, điều tôi vừa giảng có lẽ là điều mà chư vị chưa bao giờ nghe qua, nhưng đó là sự thật.  Về những điều này tôi biết rất nhiều, tôi cũng đă nh́n thấy rất nhiều.  Nhất là có một điểm, đôi khi tôi nh́n xem các bác sĩ trong nhà thương t́m cách cứu một bệnh nhân, tôi thấy rằng người bệnh nhân đó đă chết rồI, trong khi đó người ta vẫn cố gắng để cứu họ.  Hồn của người bệnh nhân đó đă rời khỏi thân và đi rồi.  V́ khái niệm của hai thời gian không gian là khác nhau – tốc độ thời gian và cấu trúc của các không gian là khác với của bên con người chúng ta đây, một khi sinh mệnh đó thoát ra khỏi cái thân thể người, những ǵ xẩy ra trong cuộc đời của họ h́nh như là vừa mới diễn ra; cảm tưởng như là tỉnh giậy sau một giấc ngủ trưa.  Và đó là cách mà Phật nh́n con người.  Nhân loại ở trong mê và mơ hồ, một đời người rất ngắn và tạm bợ.

 

Tôi truyền Pháp này cho tất cả chư vị, dù là t́nh huống nào, chư vị có duyên phận mới đến để đắc được Pháp.  Đây là những ǵ tôi nghĩ: v́ chư vị đắc được Pháp, chư vị cũng nên dùng thời gian rănh rỗi mà đọc sách sau khi đi làm về.  Mọi người nên đọc sách thêm, xem tôi nói có đúng không.  Nếu không th́ đừng học nữa.  Tuy nhiên, nếu chư vị thật sự tha thiết đọc qua, không cần tôi n ói ǵ thêm nữa, chư vị cũng sẽ không bỏ xuống, v́ chư vị đă nh́n thấy các chân lư cao hơn trong sách và chư vị sẽ muốn đọc hoài.  Nó vượt xa kiến thức con người.  Ai cũng có Phật tính, miễn chư vị tiếp tục đọc sách, chư vị sẽ không muốn bỏ xuống.

 

Khi tôi truyền Pháp này, có lẽ tôi đă dùng theo cách suy nghĩ của người ở Trung Hoa Lục Địa, và quyển sách cũng đă được phối hợp theo cách ấy.  Mặc dù nó khác với cách suy nghĩ hay nhận định sự việc theo cách của người Mỹ hay của người của các quốc gia khác, và mặc dù cấu kết tư tưởng bên ngoài và một người am hiểu xâu sắc thế nào, những ǵ được viết xuống là khác, nhưng trong tu luyện th́ hàm nghĩa của Pháp lư là giống nhau.  Người từ địa phương nào, từ quốc gia nào, hay dân tộc nào, cũng có thể học được, cho nên miễn là chư vị đọc sách th́ hàm nghĩa là giống nhau.  Đừng đào xâu vào những điều này trong khi chư vị học.  Tôi nghĩ rằng chư vị có thể tiếp thụ được tất cả điều này, bởi v́ sự việc này không phải đă khởi đầu an bài  chỉ trong vài ngày; mà đă được an bài dài từ lâu lắm rồi trong quá khứ. 

 

Chư vị cũng đă biết rằng, khi điều ǵ xẩy ra trong xă hội người thường, th́ không phải là ngẫu nhiên, tuy nhiên đó là kết quả của thiên tượng biến đổi.  Nếu mà không an bài sự việc này cùng lúc với tiến triển của lịch sử nhân loại, th́ sự việc này sẽ không xuất hiện là một phần của lịch sử.  Chư vị cũng biết, có vô số kể các sinh mệnh cao hơn tồn tại.  Phật Giáo nói rằng chư Phật khắp mọi nơi, con số không tưởng tượng được.  Hơn nữa, có chư thần hữu h́nh và có chư thần vô h́nh, họ ở khắp nơi.  Trong các vị đó mà tính th́ c̣n có rất nhiều rất nhiều các vật chất ở cực vi quan tồn tại trong xă hội người thường.   Con người gọi đó là yếu tố vi lượng, hay các yếu tố khác trong không khí, và đó là một phần mà con người được phép biết.  C̣n có các vật chất khác ở vi quan hơn nữa, vi quan hơn nữa, mà con người không được biết.  Các vật chất này, các vật chất mà tồn tại khắp nơi chan ḥa trong vũ trụ to lớn, tất cả đều là các sinh mệnh cao hơn, có Phật tính, và họ đang theo dơi con người, đang nh́n con người, và đang quan sát con người.  Đó là tại sao không có ǵ trong xă hội nhân loại là ngẫu nhiên.

 

Truyền Đại Pháp này ra công chúng đă làm náo loạn trời và đất.  Hiện tại th́ nó không hiển nhiên nơi xă hội người thường, nhưng ở các không gian khác th́ là như thế.  Chưa có ai trong lịch đă từng giảng chân lư của vũ trụ cho con người, chưa bao giờ.  Chư vị biết, người như Lăo Tử, Thích Ca Mâu Ni, Jê-su, và những vị khác, chỉ truyền một phần Pháp lư của vũ trụ mà chính họ chứng được và ngộ ra.  Các vị ấy chỉ giảng những ǵ họ hiểu biết, ngược lại Pháp của vũ trụ là vô biên.  Có vô số kể các chư Phật mà quả vị c̣n cao hơn Như Lai, và Pháp mà họ đă chứng th́ c̣n to hơn nữa.  C̣n có các sinh mệnh vô h́nh vượt xa tầng thứ của Phật, họ cũng có Phật tính.   Vũ trụ không nhỏ như người trong tôn giáo tin.  Hiểu biết của con người chỉ hạn chế trong cái xă hội con người này.  Con người tin rằng những ǵ tôn giáo giảng là vĩ đại, nhưng trong tầm nh́n của chư thần cao hơn th́ không là ǵ cả.

 

Các nguyên lư mà tôi đă giảng có lẽ là to lớn hơn nữa, và tôi đă truyền nó cho con người – thật sự đây là lần đầu tiên trong lịch sử.  Sự việc mà tôi đang làm đây là với h́nh thức của con người và với ngôn ngữ của con người.  Tôi làm một điều vĩ đại nhất, và đă làm dưới h́nh thức tu luyện thấp nhất.  Hiện tại, không có nhiều người ở Mỹ và các nơi khác ở Trung Hoa Lục Địa học, bởi v́ sự khác biệt trong ngôn ngữ và các môi trường khác nhau.  Đa số người học ở Trung Hoa Lục Địa là đang tu luyện thật sự; cả hơn 10 triệu người luyện công mỗi ngày và tu luyện chính ḿnh; c̣n những người mà khi tập khi không, nếu mà tính th́ con số là hằng cả chục triệu người, và số người ở Trung Hoa Lục Địa mà biết về công pháp mà tôi đang truyền dạy là cả hằng trăm triệu người – khi nói đến dường như ai cũng biết.  Nhưng tôi không muốn công pháp này trở thành chính trị, và tôi cũng không cho phép nó tham gia vào chính trị.  Hễ một môn tu luyện mà có liên hệ vào chính trị th́ nó sẽ trở thành tà môn.  Chúng tôi thuần khiết truyền pháp môn này trong người thường qua cách truyền miệng.  Chúng tôi cũng không xử dụng công cụ thông tin như là báo chí, và chúng tôi cũng không công khai giới thiệu nhiều.  Điều mà xẩy ra là khi một người tu luyện nhận thấy pháp môn này tốt, người đó mời những người khác đến học.  Khi một người nhận thấy pháp môn này tốt, th́ họ sẽ giới thiệu cho gia đ́nh của họ.  Mọi người biết rằng nếu ai mà không nhận thấy tốt th́ họ sẽ không nói với gia đ́nh họ đến học.  Khi gia đ́nh họ thấy tốt, họ sẽ khuyến khích bà con và bạn bè của họ đến học.  Và đó là cách mà pháp môn này truyền ra.  Một điều nữa là tôi bắt đầu truyền dạy ở tầng thứ thấp nhất, dần dần tiến lên các tầng thứ cao hơn, tốn cả 2 năm.  Sau đó mất thêm 2 năm nữa tôi mới thật sự truyền Đại Pháp.   Cho nên tổng cộng là 4 năm, ở Trung Quốc hầu hết gia đ́nh nào cũng biết.  Cũng mang ảnh hưởng to lớn ra nước ngoài, đến cả những người chưa tu luyện, mà nhiều người cũng nghe đến.  Ảnh hưởng ở Đông Nam Á có lẽ là to hơn ở Mỹ, và rất nhiều quốc gia khác đă thành lập các trung tâm phụ đạo, các Hội Pháp Luân Đại Pháp, các Đoàn Thể Pháp Luân Đại Pháp, v…v.  Chúng tôi nh́n thấy chiều hướng phát triễn rất nhanh.

 

Ở đây tôi muốn nói chư vị một điều.  Theo lời của Đức Thích Ca Mâu Ni giảng, ngay bây giờ chính là thời Mạt Pháp, thời mà [Pháp] không c̣n tốt nữa.  Tức là không c̣n Pháp nữa.  Đức Thích Ca Mâu Ni giảng rằng Pháp mà ngài truyền không thể cứu độ người nữa sau khi thời Mạt Pháp bắt đầu.  Tất nhiên, nhiều ḥa thượng không thể tu thành là v́ họ không biết làm sao tu luyện; họ không c̣n hiểu kinh Phật nữa, hay hiểu được hàm nghĩa thật sự của kinh Phật.  Cho nên rất khó mà tu luyện bây giờ.  Hiện nay có nhiều người học Đại Pháp.  Tôi có thể nói với chư vị rằng không có hiện tượng nào trong xă hội con người là ngẫu nhiên cả.  Có rất nhiều người đến học.  Nó sẽ không như thế nếu không có sự an bài của một thiên tượng đặc định, đúng không?  Tôi nói cho chư vị biết chắc chắn là có lư do.

 

Nhân loại nằm trong luật tương sinh tương khắc; hễ có chính là có tà.  Cho nên, để đối ứng với phát triển của chúng tôi th́ cũng có các môn khí công giả nổi lên rất nhiều trong xă hội ngày nay.  Ở bề ngoài, v́ tiền và danh mà thúc đẩy người ta làm những điều đó, nhưng trên thực tế rất nhiều người này họ là yêu ma tà ác tái sinh ở đây để gây náo loạn cho thế giới này.  Đức Thích Ca Mâu Ni giảng rằng thời ngài truyền Pháp của ngài, ngài nh́n thấy trong xă hội nhân loại có “năm trụy lạc”.  Trên thực tế xă hội ngày nay c̣n phức tạp hơn thời đó nữa: nó có cả “mười trụy lạc”  và các tà giáo th́ có rất nhiều.

 

Tôi muốn giảng rơ ra rằng ở đây chúng ta nhất định không được thành lập một loại tôn giáo có tổ chức.  Nếu chư vị muốn đến học pháp môn của chúng tôi th́ cứ đến, và nếu chư vị không muốn học th́ cứ đi – hoàn toàn là tự nguyện.  Giả như chúng tôi ép buộc chư vị đến học, chúng tôi ép chư vị học, và bắt chư vị học; và hễ chư vị bắt đầu rồi, giả như chư vị không được phép bỏ đi và phải ở lại với chúng tôi.  Cũng như chư vị phỏng đoán, làm thế là làm điều tà.  Nếu là một môn tu luyện chân chính, th́ phải chính là cá nhân đó muốn học.  Nếu chư vị bắt buộc họ tu, họ có tu được không?  Nhất định là họ không tu thật sự.  Người mà có thể tu luyện chỉ khi nào họ thật sự muốn tu.  Cho nên ép buộc ai tu cũng vô ít thôi.  Chúng tôi không làm như thế.  Nếu chư vị muốn học th́ cứ học.  Và nếu chư vị muốn học chúng tôi sẽ có trách nhiệm với chư vị.  Không kể là duyên phận của chư vị thế nào, nếu chư vị muốn học tôi sẽ có trách nhiệm với chư vị.  C̣n nếu chư vị không muốn học chư vị tự do muốn làm ǵ th́ làm tùy ư.

 

Mục đích tôi truyền Pháp này là để trao cho mọi người những điều tốt này và mang tin tốt cho chư vị.  Nhiều người trong chư vị thật sự có duyên phận và nên đắc được Pháp này; chư vị đă chờ đợi để đắc được Pháp này.  Nhân loại đă tiến đến giai đoạn vô cùng hỗn loạn này, đạo đức của toàn bộ xă hội đang trượt xuống.  Nhiều người cho rằng tai họa chắc chắn sẽ xẩy ra.  Trong khi đó tôi có thể nói với chư vị rằng trong hiện tại chuyện đó không có, đà trượt dốc này đă mang hiễm họa đến cho nhân loại.  Như thế nào?  Hăy suy nghĩ: chuyện ǵ đă xẩy ra cho xă hội ngày nay?  Các hiện tượng bại hoại nhiều không đếm hết.  Một con người – tại sao được xem là con người?  Nếu con người sống trong thế giới này, họ phải sống thể theo tiêu chuẫn và qui tắc của loài người, chỉ lúc ấy họ mới được gọi là “con người”.  Nếu không, chư vị không được xem là con người.  Không phải là nếu chư vị v́ có cái đầu và tay chân th́ chư vị là con người.  Khỉ cũng có tay chân, nhiều sinh linh trong các không gian khác cũng giống như con người nhưng lại không được gọi là con người.  Đó là v́ con người có tiêu chuẫn cho hành vi và đạo đức, cùng với cả quy tắc đạo đức, nên họ mới được làm người.  Nếu con người loại bỏ các quy tắc của đạo đức con người – tức là, loại bỏ tiêu chuẫn đạo dức mà đă đề ra cho con người – và trở thành thú vật, th́ Trời sẽ không xem con người là con người nữa, mà xem là thú vật.  Đến lúc ấy loài người sẽ phải đối diện với viễn cảnh kinh hoàng.

 

Tại sao lại có viễn cảnh kinh hoàng?  Hăy suy nghĩ: đây là không gian của nhân loại, chư thần tạo ra trái đất này đặc biệt cho con người chứ không phải cho thú vật.  Cho nên nếu là như thế, mặc dù chúng ta có thể thấy rất nhiều người xấu trong hiện tại dám làm điều xấu, có lẽ hậu quả dành cho họ là hoàn toàn hủy diệt.  Có nhiều loại người và có nhiều người th́ tốt hơn trung b́nh nhưng cũng trên đà trược xuống.  Hiện tại, khi một người không thể tu luyện, nhưng khi tôi dạy sự thật cho họ, họ thức tỉnh và nhận ra rằng nhân loại đă trở thành ǵ rồi, kết quả là họ không trượt xa xuống nữa và không gây hậu quả kinh hoàng cho chính bản thân họ.

 

Hễ tôi giảng th́ tôi cứ giảng một mạch khá lâu, bởi v́ tôi luôn luôn muốn cho chư vị biết về những sự thật này.  Bởi v́ tôi sẽ đi dự buổi họp ở Houston, tôi chỉ muốn gặp chư vị ở đây và giảng sơ qua vài điều, lấy cơ hội này để gặp chư vị (vỗ tay), và giảng cho chư vị một lần nữa rằng: Pháp này  quả thật là trân quư.  Tôi dạy cho chư vị mà không đ̣i hỏi điều ǵ nơi chư vị.  Đây là Pháp chân chính, sự quư giá của Pháp là vượt xa so với những ǵ nhân loại muốn biết mà hằng trăm hằng ngàn năm qua không có ai dạy.   Đó là đặc tính của con người là khi chư vị đang t́m kiếm những ǵ trân quư, nếu chư vị đạt được chỉ một chút thôi, dù rằng chỉ một câu, chư vị sẽ cẫn thận và quư nó vô cùng.  Suốt đời chư vị cũng không quên.   Nhưng khi điều trân quư hơn đến với chư vị, hay đến cả khi đưa trên cái mâm đến cho chư vị, chư vị [có thể sẽ không để ư bởi v́ chư vị] cảm thấy là đắc được quá dễ dàng, v́ thế mà có người không quư trọng nó.  Nhân loại có khuynh hướng không quư trọng những ǵ đến một cách dễ dàng.  Tuy nhiên, tôi có thể với chư vị rằng không có cách nào khác hơn để dạy Pháp này cho chư vị.  Tôi không muốn mọi người đi khắp nơi t́m tôi.  Tôi chỉ có thể trao cho chư vị tất cả điều này và để cho mọi người biết và để cho thêm nhiều người hơn nữa biết, kết duyên này một lần nữa.  Tôi chỉ có thể làm theo cách này, và đó là c̣n tùy vào chư vị có quư trọng nó hay không, v́ chư vị có cơ duyên mà đến.  Con người có khả năng phân tích, cho nên chư vị có thể tự ḿnh nhận định các nguyên lư này có tốt không.  Tôi nghĩ rằng Phật tính hiện diện trong mỗi một người, cho nên chư vị sẽ tự ḿnh hiểu ra. (Vỗ tay)

 

Một số người trong chư vị dường như là từ xa đến và không ai muốn rời đi cả.

 

Học viên:  Thưa Thầy con có thể chụp h́nh không?

 

Thầy:  Được.

 

Học viên:  Con có thể hỏi không?

 

Thầy:  Để làm như thế này.  Chúng ta không thể kéo dài lâu quá, nhưng tôi sẽ cho chư vị phân nửa giờ nuưa.  Tôi sẽ trả lời một số câu hỏi đại biểu thôi và những điều thật sự làm chư vị thắc mắc.  Đừng hỏi những câu mà có thể t́m được trong sách.  Tôi nói điều này là v́ có rất nhiều người ở đây.  Nếu mỗi một người cùng đưa lên một câu hỏi, 2 tiếng đồng hồ cũng không trả lời hết.  Có được không?

 

Học Viên:  Con có thể hỏi một câu?

 

Thầy:  Được, được.

 

Học viên:  Con đă đọc sách của Thầy và con đang học Pháp.  Con mách với bạn bè và bà con về pháp môn này.  Họ quan tâm là v́ họ đă từng là tín đồ Phật Giáo.  Tất nhiên, nhiều người bạn th́ là tín đồ Cơ Đốc Giáo.  Họ lo rằng nếu họ học Pháp Luân Công, th́ có c̣n niệm chú hay đi nhà thờ không?

 

Thầy:  Được, tôi sẽ giải thích.  Điều chư vị hỏi là nếu một người có tín ngưỡng khác có thể học Pháp Luân Công và có bị can nhiễu không.  Thật ra th́ tôi có giảng những điều này trong sách của tôi rồi, nhưng tôi cũng có thể giảng lại một lần nữa.

 

Chư vị cũng biết, tu Phật không giống như người thường tưởng, như là đạt được một loại kiến thức.  Tu Phật là điều thật sự vô cùng nghiêm túc.  Không có ǵ trên thế gian này mà quan trọng hay cao quư bằng.  Có nhiều trường phái tu luyện và nguyên lư “bất nhị pháp môn” là quan trọng trong Phật Giáo, chúng ta cũng thế.  Tôi vừa nói rằng đối với Phật Giáo vào thời Mạt Pháp tu luyện là không dễ.  Tại sao thế?  Trong giai đoạn này con người không c̣n hiểu hàm nghĩa chân chính của kinh Phật nữa.  Cái rắc rối to lớn nhất chính là: các giải thích trong tự điển của Phật Giáo hiện đại không c̣n phù hợp với những ǵ Đức Thích Ca Mâu Ni giảng lúc c̣n tại thế.  Ví dụ, nguyên lư “bất nhị pháp môn” mà Đức Thích Ca Mâu Ni giảng có nghĩa là khi một người tu luyện th́ không được trộn lẫn các môn khác vào mà tu, không được tu hai thứ hay nhiều thứ cùng một lúc.  Giả thử chư vị tu Thiền Tông; th́ chư vị không được tu Tịnh Độ.  Nếu chư vị tu Tịnh Độ, th́ chư vị không được tu Thiên Đài hay Hoa Nghiêm.  Và nếu chư vị tu Hoa Nghiêm, th́ chư vị không được tu Thiên Đài, cũng không tu Thiền hay tu Mật Tông.

 

Tại sao thế?  Hiện nay người ta không hiểu; miễn là một vị Phật là họ sẽ thờ phụng, miễn là một vị Phật th́ họ không quan tâm là vị ấy từ môn nào và họ sẽ rất kính thờ phụng.  Đây là nguyên nhân chủ yếu mà ngày nay các ḥa thượng không tu thành.  Sự thật, mỗi một vị Phật có thế giới mà chính vị ấy trụ tŕ, và mỗi một thế giới th́ có một vị Phật Như Lai.  Ví dụ, Phật Dược Sư th́ trụ tŕ Lưu Lư Thế Giới; Hoa Nghiêm Thế Giới th́ có Hoa Nghiêm Như Lai; Liên Hoa Thế Giới th́ có Liên Hoa Như Lai; và Thế Giới Cực Lạc th́ có Phật Như Lai A Di Đà, v…v.  Mỗi một vị Phật Như Lai th́ có một môn tu luyện riêng của họ, các nguyên lư căn bản mà mỗi một vị Phật chứng ngộ là từ Pháp lư của vũ trụ.  Tuy thế chứng ngộ và cách tu luyện của mỗi một vị Phật Như Lai là khác nhau.  Tại sao thế?  Cũng như chư vị biết, khả năng của mỗi một vị Phật là khác nhau, là v́ họ khác nhau.  Phật này có khả năng này và Phật kia có khả năng kia, nhưng tất cả đều cùng ở trong một cảnh giới; chỉ có khả năng là khác nhau.  Cũng tương đương với vào đại học.  Chư vị là một sinh viên đại học, người kia cũng thế.  Chư vị học về khoa học, người kia học về nhân loại, người khác học về nông nghiệp, người khác nữa học về thiên văn.  Mỗi người th́ khác nhau. Tất cả đều sinh viên đại học, tuy thế những ǵ họ học và kiến thức đạt được là khác nhau.  Tôi chỉ giảng một ví dụ giản dị thôi.

 

Bây giờ nếu con người muốn lên một thế giới nào đó, Phật Giáo có thời đă đ̣i hỏi người tu phải thệ nguyên là về nơi đó.  Ví dụ, có người nói: “Tôi muốn về Thế Giới Tịnh Độ, tôi muốn tu về nơi Phật A Di Đà ở và trở thành một sinh mệnh dưới sự trụ tŕ của Phật.”  Có thể có người muốn tu thành Bồ Tát hay tu thành La Hán.  Thế th́ sau khi chư vị thề lời nguyền đó, chư vị chỉ tu trong trường phái đó, chỉ học kinh Phật A Di Đà, niệm danh hiệu của Phật A Di Đà.  Và chư vị không được phép đọc các kinh khác.  Đó gọi là “bất nhị pháp môn”.  Nếu chư vị muốn về Thế Giới Hoa Nghiêm th́ chư vị không được đọc kinh nào khác ngoài Kinh Hoa Nghiêm.  Con người nghĩ rằng tất cả lời giảng [của các môn tu luyện] là các nguyên lư của Phật Giáo và tất cả là tốt cho con người, nhưng đó chỉ là suy nghĩ của con người.  Nếu chư vị không nghiêm trọng chú ư điều này, tất cả những ǵ của chư vị sẽ bị hỗn loạn.  Một tập kinh bao hàm tất cả các nguyên lư mà người tu luyện cần học, từ tầng thứ thấp nhất cho đến cao nhất.  Chỉ có con người mới nghĩ rằng trộn lẫn các môn với nhau để mà tu là tốt.

 

Xă hội nhân loại đă bị phong kín lại rồi, tất cả chư thần chân chính mà đă từng trách nhiệm cứu độ con người không c̣n trông nom con người nữa.  Họ không c̣n trông nom con người nữa bởi v́ họ xem con người ngày nay phẩm chất quá thấp, cho nên họ không c̣n muốn con người nữa hay muốn cứu độ con người nữa.  Điều tôi giảng vừa qua, tức là, rất khó khăn lắm tôi mới truyền được Pháp này, rất nhiều Thần và Phật đă t́m cách ngăn chận không để tôi làm.  Họ nghĩ rằng con người ngày nay không c̣n cứu được nữa và cũng không nên giữ lại.  Con người không biết điều này và vẫn sống hưởng thụ.  Con người không biết sự khác biệt to lớn giữa đạo đức của con người ngày nay và con người trong quá khứ; cũng không biết sự khác biệt to lớn giữa Trời và Đất, không biết chư Thần và Phật xem con người ra sao, không biết trên trời trong sạch thế nào, không biết Phật cao quư và vĩ đại thế nào!

 

Sự sai biệt giữa nhân loại và thiên nhân thật sự vô cùng to lớn.  Bầu trời dường như trong sạch đối với người ở thế gian, nhưng đó chính là v́ nhân loại nh́n sự vật qua cặp mắt do vật chất từ chỗ này cấu thành.  Nếu nhân loại mà có khả năng nh́n loài người từ các không gian cao hơn, chính họ cũng sẽ phát hiện xă hội nhân loại cuồn cuộn trong nghiệp đen to lớn, nhơ nhớp kinh hoàng.  Cho nên chư Thần và Phật không xem nhân loại như con người tưởng tượng.  Con người được cứu độ là v́ chư Thần và Phật từ bi đối với con người.  Không phải như thể là khi chư vị khen Phật, th́ Phật sẽ mang chư vị [lên thiên giới của họ]; cũng không phải như thể chư Thần và Phật ban cho chư vị bất cứ điều ǵ chư vị muốn.  Thực tế, không kể là Thần hay Phật, cái vị ấy không quan tâm đến h́nh thức khi nói đến tu luyện.  Không kể là một tôn giáo to cỡ nào, cũng không tính đó là tu luyện.  Chính tôi cũng truyền một pháp môn cho nhân loại, cũng không phải v́ để truyền một tôn giáo mà tôi làm.  Chư Thần và Phật không nhận thức tôn giáo, chỉ nhận thức con người.

 

Người ta luôn nói rằng “Tôn giáo mà tôi tin th́ tốt lắm.”  Dường như người này xác nhận Phật, hay xác nhận Jê-su và các Vương.  Không phải thế.   Người này càng nhiệt t́nh với tôn giáo đó, th́ họ càng dính mắt vào đó; càng dính mắt vào đó th́ lại càng xa rời Thượng đế.  Tôn giáo chỉ là một h́nh thức tu luyện do con người tạo ra.  Không kể nó là một tôn giáo trọn vẹn hay hoàn hảo, nó cũng không so được với một người mà tu luyện một cách hoàn hảo.  Khi con người chú tâm vào những điều này, chư Thần và Phật vừa nh́n thấy liền cảm thấy rất khó chịu.  Phật không xét h́nh thức mà chư vị chấp nhận trong thế nhân này.  Có thể chư vị đă qui y rồi hay đă rửa tội rồi, nhưng nếu chư vị vẫn c̣n tâm con người th́ có khác ǵ đâu?  Phật không xét những điều đó, họ chỉ xét là chư vị có thật sự tu luyện bản thân ḿnh hay không.  Nếu chư vị đă qui y rồi hay đă rửa tội rồi, và thậm chí chư vị cũng không đốt nhang hay niệm danh hiệu Phật, tuy nhiên chư vị giữ tiêu chuẩn do Thần và Phật đề ra, và c̣n kiên tŕ tu luyện chân chính, hễ nh́n thấy chư vị họ đă vui rồi.  Chư vị không cần hỏi, họ sẽ liên tục bảo hộ chư vị, trông nom chư vị, giúp chư vị tu luyện.  Cái ư chẳng phải là thế hay sao?  (Vỗ tay)   

 

Có người nói “Tôi không bỏ kinh Phật được.” “Tôi không bỏ được kinh Thánh,” hay là “Tôi không bỏ niệm chú được.”  Điều mà họ bỏ không được chính là tôn giáo chứ không phải là Phật.  Hăy suy nghĩ một cách cẩn thận và xét.  Đó là trường hợp của các tín đồ, chẳng phải sao?   Tại sao họ không bỏ tôn giáo được?  T́m cái nguyên nhân cội rể trong tâm chư vị và tận xâu bên trong chư vị mà xét vấn đề này ra sao.  Với một số điều, thể hiện bên ngoài dường như là đúng nhưng không hẳn là đúng.  Chỉ có chân chính tu luyện bản thân ḿnh th́ mới thật sự là tin tưởng Thần và Phật.  Và đó là cách mà chư Phật xét vấn đề; họ không quan tâm đến một tôn giáo điều hành tốt thế nào.  Cũng như chư vị biết, rất nhiều người trong lịch sử đă tu thành, nhưng không hẳn họ là người trong tôn giáo.  Nhiều người có uy đức rất nhiều cũng không có tu trong tôn giáo.  Họ tự ḿnh chiếu theo tiêu chuẩn nghiêm khắc và kiên tâm làm người tốt.  Và khi họ kiên tŕ giữ vững như thế qua một thời gian dài, ngày càng khá hơn, chư Phật trông nom họ và họ sẽ đạt Viên Măn.

 

Nguyên lư mà tôi đang truyền, rốt ráo là, bảo chư vị làm người tốt, làm một người tốt hơn, làm một người tốt vượt hẳn người thường.  Khi chư vị làm được như thế, chư vị sẽ là một sinh mệnh cao hơn, và khi chư vị thăng hoa cao hơn chư vị sẽ là một sinh mệnh trong cảnh giới cao hơn.  V́ thế, nếu một người như thế mà được thăng lên thiên đàng, th́ họ có c̣n ở trái đất này không?  Con người là ích kỷ và tranh đua, họ tranh đấu v́ danh v́ lợi.  Có nghĩa là con người trên trái đấy này là khác với chư vị.  Sự thật là thế.  Nếu chư vị nói chuyện với họ [các tín đồ tôn giáo] về khía cạnh này, th́ không kể là tôn giáo nào, hễ mà thần đă bỏ rồi, th́ đó cũng chỉ là một h́nh thức xă hội nơi người thường và cũng chỉ là một công việc của người thường.  Tôn giáo của họ thật sự không có tác dụng ǵ về tu luyện.  Tuy nhiên, ở đây có liên hệ một vấn đề nghiêm túc tu luyện.  Chuyên nhất tu luyện chính là tu luyện chân chính.  Nếu một người muốn học Đại Pháp của chúng ta, th́ họ có thể học.  Bảo họ rằng dù là thuộc về tôn giáo khác cũng không can nhiễu với tu luyện trong Đại Pháp, nó có một vấn đề nghiêm túc tu luyện.  Bảo họ rằng sự liên hệ với tôn giáo của họ cũng không có ảnh hưởng ǵ, rằng sao khi họ đọc sách th́ họ sẽ hiểu.  (Vỗ tay)

 

Học viên:  Ngoài 5 bài công pháp mà Thầy giảng cho chúng con, con thấy có một bộ thủ ấn, bộ thủ ấn mà Thầy dạy.

 

Thầy:  Trước hết, để tôi giảng cho chư vị “thủ ấn” là ǵ. Thủ ấn được xem như là một ngôn ngữ của Phật, một h́nh thức diễn đạt, mà khi chư Phật diễn đạt điều ǵ và họ không muốn dùng ngôn ngữ, th́ họ dùng thủ ấn.  Họ dùng tư tưởng để truyền đạt giữa các vị Phật với nhau.  Khi chư vị nh́n thấy các Pháp Thân của tôi, hay nh́n thấy chư Phật hay Bồ Tát trong giấc mơ, khi họ nói chuyện với chư vị, có lúc họ không dùng lời, nhưng chư vị nghe được âm thanh.  Đó là truyền đạt bằng tư tường.  Theo danh từ hiện đại th́ gọi là truyền đạt tư tưởng qua âm thanh lập thể.  Thủ ấn thường được dùng khi giảng Pháp cho nhiều Bồ Tát và La Hán.  Nó không phải là giống như ngôn ngữ tay của con người; nó thiêng liêng, thuần tịnh hơn thế nữa và mạnh mẽ.  Nó là một ngôn ngữ của Phật, cho nên khi thủ ấn được dùng th́ nó mang một năng lượng và sức mạnh, và những ǵ vị Phật diễn đạt cho tất cả sinh mệnh bên dưới họ chính là Pháp.  Nhưng thủ ấn th́ giống như nói bằng lời nhưng đứt đoạn, và lời th́ có thể phối hợp trong nhiều cách khác nhau để diễn đạt các ư nghĩa khác nhau.  Mỗi một ư tưởng đều được diễn đạt từ các góc độ khác nhau, cho nên không cố định hay có tiêu chuẩn.  Tuy nhiên, có một bộ thủ ấn đặc biệc dùng cho các bài công pháp; tức là khi hai tay kết lại để h́nh thành một thế, th́ đó gọi là một bộ thủ ấn.  Ví dụ, bộ thủ ấn hoa xen và bộ thủ ấn mà chúng ta dùng trong các bài công pháp – nó là một bộ thủ ấn.  Thủ ấn dùng với cử động th́ khác với bộ thủ ấn bất động.  Bộ ấn mà tôi làm trong khi tập các bài công pháp trong băng h́nh là để cho phần mà “biết” của chư vị nh́n thấy trước khi chư vị tập các bài công pháp, và cho các sinh mệnh trong các không gian khác.  Cho nên chư vị không cần học bộ này.  C̣n những ai trong chư vị mà sau này tu Phật th́ sẽ biết cách làm.  (Vỗ tay)

 

Học viên:  Thưa Thầy Lư, Thầy có thể hạ nhập Pháp Luân cho tất cả chúng con hôm nay, phải không?

 

Thầy:  Để tôi nói với chư vị, miễn là chư vị chân thành tu luyện – tức là, không kể chư vị đă đến đây hay chư vị tự ḿnh đọc sách – tất cả chư vị đều sẽ được một Pháp Luân.  Tôi cũng muốn nói rằng: nhất định chư vị phải trân quư sách này.   Chư vị chưa nhận thức ra bây giờ, nhưng những ǵ sách giảng tất cả đều là các lư của Phật.  Tất cả tầng thứ tu luyện đều bao gồm trong sách.  Thật ra, những ǵ chỉ đạo chư vị tu luyện không ǵ khác hơn là Phật Pháp.  Trong khi chư vị tu luyện bản thân ḿnh, chư Phật và Thần sẽ giúp chư vị.  Hăy suy nghĩ: ai ở trong mỗi tầng thứ của các thiên giới?  Chẳng phải là chư Thần và Phật hay sao?  Chẳng phải họ là chư Phật cao hơn hay sao, đến cả các chư Phật cao hơn, và các chư Phật cao hơn nữa hay sao?  Đó là tại sao tôi bảo chư vị mỗi một lời của trong sách là đại biểu từng lớp từng lớp của vô số kể chư Phật, cuối cùng là các Pháp Thân của tôi và cũng có Pháp Luân biểu hiện tại tất các tầng thứ khác nhau.  Tại sao có người cảm thấy thoải mái sau khi cầm sách lên và đọc?  Tại sao nghiệp của họ được tiêu trừ vừa khi họ đọc sách?  Và tại sao vừa khi họ đọc sách th́ bệnh của họ lành?  Tất nhiên, hễ chư vị tu luyện th́ không phải là nghiệp của chư vị được tiêu trừ hết tất cả một lần; lần thứ nhất th́ không thể tiêu trừ hết tất cả cho chư vị, đó là nhiều quá.  [Điều xẩy ra là,] một phân nửa được tiêu trừ khi cảnh giới tư tưởng của chư vị thăng hoa đến một tầng thứ cao hơn, và v́ để cho chư vị đề cao qua tu luyện mà chúng tôi làm theo cách này.  Cho nên sức mạnh của Pháp này là vô cùng vĩ đại.  Hăy suy nghĩ: tôi có cần hạ nhập Pháp Luân cho một người hay không?  Miễn là chư vị chân thành học Đại Pháp và muốn tu luyện, chư vị sẽ được một Pháp Luân, không kể là ai.  Đại Pháp đang được truyền  khắp nơi trên toàn thế giới.  Tôi không thể gặp tất cả mọi người trên toàn thế giới.  Ở Trung Quốc chỉ có các học viên mà đă đến tham dự khóa giảng th́ mới gặp tôi; đa số th́ chưa gặp.  Không có những thứ mà tôi ban cho chư vị như là Pháp Luân, chư vị có tu luyện được không?  Không tu được.  Đó là tại sao tôi bỏ pháp lực của tôi vào trong sách này.  Miễn là người đó tu luyện, hễ họ đọc sách, th́ sẽ đạt được tất cả những ǵ cần được trong tu luyện.

 

Hiện tại có nhiều học viên đi khắp nơi t́m tôi, nhưng tôi không muốn gặp họ.  Tôi không muốn gặp họ có một nguyên nhân, tức là, tôi muốn họ ở tại nơi đó và kiên định, nhất trí tu luyện chính ḿnh.  Khi một số học viên gặp tôi họ bị dao động, và đó cũng là một can nhiễu cho sự tu luyện của họ.  Tôi muốn họ tu luyện với tâm tĩnh lặng.  Chỉ có việc truyền Pháp của tôi thôi, th́ không có tác dụng: chư vị phải đắc được Pháp và phải có th́ giờ để đọc sách, và tu luyện chính ḿnh một cách vững vàng.  Đó là tại sao tôi cố gắng không gặp chư vị thường xuyên.  Giả như trường hợp việc truyền Pháp của tôi mà không giải quyết được việc tôi không gặp chư vị, th́ tôi làm việc này cũng uổng phí thôi.  Cho nên, miễn là chư vị đọc sách, và miễn là chư vị thật sự tu luyện, chư vị sẽ đạt được tất cả những ǵ chư vị đáng được trong pháp môn này.  Bảo đảm là như thế. (Vỗ tay)

 

Từ bao nhiên ngàn năm các đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni tự ḿnh tu luyện qua các kinh Phật, và đă tu luyện không gặp được Sư Phụ của ḿnh, đúng không?   Pháp sẽ bao hàm tất cả những ǵ cần thiết cho những ai tu luyện chân chính.  Thường th́ khi tôi hạ nhập Pháp Luân cho chư vị tôi không cho phép chư vị nh́n thấy.  Đó là để loại trừ đi cái tâm chấp trước: chư vị không học công cho đến khi  chư vị được ban cho điều ǵ.

 

Học viên:  Thầy Lư, Thầy nói rằng có các môn khí công thật và giả.  Làm sao chúng con phân biệt được cái thật và cái giả?

 

Thầy:  Có các môn khí công thật và giả, và thật ra người thường khó mà phân biệt được, bởi v́ tiêu chuẩn mà con người ngày nay nhận định về tốt và xấu th́ khác với trước kia.  Khi một người thật sự tu luyện, dần dần họ sẽ phân biệt được.   Chư vị có thể nh́n xem người đó dạy điều ǵ.  Chư vị có thể thấy rằng những ǵ họ giảng không phải là lư chân chính, hay bề ngoài họ bảo người ta làm điều tốt nhưng tận bên trong họ muốn tiền và lừa người.  Tu luyện Phật Pháp là nghiêm túc và không bao giờ được trộn lẫn với tiền. (Vỗ tay)  Hầu hết những ǵ trong thế giới đều được con người dùng để làm tiền, ngoại trừ Phật Pháp là tuyệt đối không được.  Hơn nữa, động cơ của một số người là v́ danh, và người thường là luôn luôn chấp trước vào danh và lợi.  Các thầy khí công giả dẫn người ta đi lệch sang đường tà, và họ cũng không cứu độ người được.  Họ làm hại người ta.

 

Trên thực tế, tội lỗi của họ là không nhỏ.  Nếu một người có bản lĩnh có căn bản ưu tiên, đă đến thọ Pháp, mà bị họ hủy hoại, tưởng tượng xem tội lỗi của họ to chừng nào.  V́ tiền tài mà họ làm điều xấu.  “Làm tiền” không phải là cớ để phạm tội như thế.  Khi khí công đạt đến cao trào ở Trung Quốc, toàn bộ các thầy khí công phần đông là truyền khí công miễn phí.  Chỉ có các thầy khí công giả đă xuất hiện làm rối loạn.  Có nhiều thầy khí công rất xuất sắc khi ra công chúng lúc ban đầu.  Trong mỗi một trường hợp đó đều là phó nguyên thần tu luyện, phần bên con người th́ không hay biết.  Theo thời gian chấp trước về danh về lợi của người đó khởi lên.  Trước khi họ ra công chúng, sư phụ của họ trông nom họ, theo đó có tác dụng khống chế của phó nguyên thần của họ.  Nhưng, một khi họ tích cực hoạt động trong xă hội, phần con người của họ bị cám dỗ v́ danh v́ lợi của thế tục.  Hễ mà họ ham muốn những thứ đó liền bị rơi xuống.  Cho nên họ không có công, cho nên đến cả chính họ -  các thầy khí công – cũng vẫn ngă bệnh. 

 

Học viên:  Con muốn hỏi Thầy: Nếu chúng con, các học viên, đạt Viên Măn, th́ chúng con đi về đâu?

 

Thầy:  Tôi có Pháp Luân Thế Giới.  Có rất nhiều thiên giới, tôi có thể giảng về các thiên giới này cho chư vị.  Nhiều người ngồi đây dường như có học thức cao, theo danh từ con người tôi sẽ giảng tóm tắc về khái niệm của vũ trụ.

 

Những ǵ nhân loại biết chỉ là một không gian này, và nó không giản dị như các tín đồ Phật Giáo hiểu biết về không gian.  Khi Phật Thích Ca Mâu Ni c̣n tại thế trong thế gian này, từ trong Pháp căn bản của vũ trụ ngài đă chứng và ngộ rất nhiều chân lư.  Người thời ấy không có ghi chép những điều này, cũng không thu thập và ghi chép trong kinh Phật.  Cho nên các chân lư đó không có lưu lại cho người trong nhân thế.  Cho đến 500 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni ĺa đời th́ người ta mới biên soạn thành kinh.  Chư vị tưởng tượng xem, 500 năm sau đó, quả thật là khó cho người ta nhớ lại những ǵ Thích Ca Mâu Ni giảng lúc c̣n tại thế, và đó là các kinh Phật mà chúng ta có hiện nay.  Trên thực tế nói chung th́ những điều đó đă khác với những ǵ Phật Thích Ca Mâu Ni giảng lúc ban đầu, mặc dù các điều đó bao hàm một số lư của Phật Giáo và cũng có thể giúp người tu luyện.  [Những ǵ bao hàm trong đó] chỉ là một vài điều mà con người được phép biết trong quá khứ, và các sinh mệnh trong không gian này chỉ được phép biết bao nhiêu đó thôi.

 

Vũ trụ không nhỏ như kinh Phật mô tả, cũng không giản dị như những người tu Đạo trong quá khứ giảng.  Điều mà Đức Thích Ca Mâu Ni giảng vào thời ấy chính là Pháp La Hán và Pháp La Hán là thấp nhất so với tất cả các quả vị khác.  Tất nhiên, ngài đă giảng những điều cao hơn, nhưng đă lưu lại rất ít.  Phật Thích Ca Mâu Ni có giảng một điều lúc c̣n tại thế, tức là: con số Phật Bồ Tát là nhiều như các hạt cát trong sông Hằng và mỗi một vị Bồ Tát là có thế giới mà họ trụ tŕ.  Thậm chí cái phạm vi mà ngài giảng cũng là to lớn đối với con người.  Nhưng thật ra, chư vị cũng biết, các phân tử là do các lạp tử vi quan cấu thành, và nhân loại th́ sống giữa các phân tử và tinh cầu.  Trên thực tế, Hệ Ngân Hà chỉ là một lạp tử trong vũ trụ, và vô số hệ ngân hà trải rộng ra có một ranh giới và cũng có cái vỏ bên ngoài.  Và đó là điều mà nhân loại của vũ trụ này nói đến.  Nhưng trên thực tế, đây chỉ là một vũ trụ nhỏ.  Cái ǵ nằm bên ngoài vũ trụ nhỏ này?  Thậm chí khoa học hiện đại cũng không dám nghĩ đến, và thậm chí nhân loại cũng không có khái niệm về vũ trụ.  Vũ trụ cũng không phải sinh ra từ cái vụ “nỗ lớn”.

 

Từ một nơi cực kỳ xa xôi vượt khỏi vũ trụ nhỏ này là các thiên thể giống như vũ trụ nhỏ này.  Thần và Phật đều có tầng thứ, chư Phật tại các tầng thứ thấp hơn không thể nh́n thấy chư Phật tại các tầng thứ cao hơn.  Trong tầm nh́n của chư Thần và Phật tại các tầng thứ cao hơn nữa th́ đây cũng chỉ là một diện tích rất nhỏ.  Nhân loại không thể phát hiện được nó.  Nhân loại biết về tốc độ ánh sáng, nhưng tốc độ ánh sáng không phải là nhanh nhất.  Ánh sáng là do thời gian và không gian ước chế, chính thời gian và không gian cũng là do vật chất từ vũ trụ cấu thành.  Tất cả những ǵ trong một không gian, lẫn cả ánh sáng, cũng là vật chất, và mỗi một loại vật chất th́ có năng lượng.  Mọi người đều sống trong không gian của lớp phân tử này.  Như là không khí, gỗ, nước, kim loại, đất hay đá, tất cả đều là do các lạp tử tại lớp phân tử này cấu kết thành.  Trong không gian này nhân loại không cảm giác được năng lượng phóng xạ từ các phân tử, bởi v́ nhân loại cũng là do các phân tử cấu kết thành.  Nhưng trên thực tế phân tử cũng có năng lượng.  Ánh sáng trong không gian nhân loại đây cũng có cái lớp phân tử bên ngoài của nó.  Điều tôi nói là, các không gian khác nhau có ánh sáng khác nhau, và các loại vật chất mà cấu kết ánh sáng trong các không gian khác nhau th́ cũng khác nhau.  Và v́ sự khác biệt trong thời gian và không gian mà ánh sáng trong đó cũng khác nhau.  Cho nên, hăy nh́n xâu xuống: nguyên tử cũng có năng lượng, năng lượng của các hạt nhân nguyên tử th́ càng mạnh hơn, neutron th́ lại càng mạnh hơn nữa, và điện tử, quark, và neutron, lớp kế tiếp th́ lại càng mạnh hơn lớp trước đó khi nói về danh từ phóng xạ và năng lượng.  Lạp tử càng xâu xuống, th́ năng lượng và phóng xạ càng mạnh.  Xuống tận cái tầng của vật chất nguyên sơ, lực lượng càng mạnh đối với nhân loại đến mức mà không lời nào diễn tả nó được.  Nhưng tất nhiên là, nhân loại không bao giờ hiểu được vật chất nguyên sơ của nó.

 

Tôi vừa giảng về những điều này là để nói với chư vị rằng vũ trụ này không hạn hẹp như nhân loại hiểu biết nó.  Có bao nhiêu vũ trụ đủ cỡ khác nhau trong vũ trụ?  Con số là không tính được.  Tuy nhiên, khi diễn tả trong một phạm vi của vũ trụ của một hệ thống nhỏ, th́ có thể nói theo cách này: khoảng 3000 vũ trụ nhỏ th́ cấu kết thành một vũ trụ lớp thứ nh́ cỡ to hơn một chút, và cũng khoảng cùng một con số đó của vũ trụ lớp thứ hai th́ cấu thành vũ trụ lớp thứ ba.  Theo thứ tự thế này mà nó cấu kết đến vô tận, ít nhất cũng như nhân loại nhận thấy.  Thế th́ “thiên giới” to thế nào?   Tôi có thể nói với chư vị rằng nhân loại vĩnh viễn không bao giờ phát hiện hệ thống thiên tể to lớn tột cùng là thế nào.  Đến cả Phật Bồ Tát cũng không thể.  Thậm chí là nó quá lớn.  Không như con người với kiến thức của họ mà tưởng tượng ra.

 

Hăy suy nghĩ những lời tôi giảng.  Một chút kiến thức đó của con người là đáng kể ǵ?  Đó chỉ là điều trẻ con, hơn nữa cái khoa học theo lối kinh nghiệm hiện đại đó đă hoàn toàn dẫn nhân loại đi sai lệch rồi.  Khoa học theo lối kinh nghiệm tạo ra nhiều giả tượng.  Hiện tại con người không có khả năng nh́n thấy.  Để tôi dẫn một ví dụ về vũ trụ mà tôi vừa giảng qua, khoa học theo lối kinh nghiệm tin rằng vũ trụ tạo ra là do vụ “nổ lớn”.  Chẳng phải đó là giả tượng mà nó tạo ra cho chư vị hay sao?   Con người ai cũng tin như thế.  Khoa học theo lối kinh nghiệm tin rằng con người là qua sự tiến hóa mà tạo ra, thuyết tiến hóa dạy con người là họ tiến hóa từ loài khỉ.  Hoàn toàn không phải như thế.  Chẳng phải là nó dẫn chư vị đi sai đường hay sao?  Con người nhận thức về vật chất thật ra th́ cũng sai – thậm chí cả kiến thức căn bản cũng sai.  Hơn nữa, nhân loại sống trong mê ảo, đă hoàn toàn bị kiến thức đó niêm phong kín lại.   Họ lại càng bị nó niêm phong chặt lại, đến độ mà không c̣n chỗ nữa.  Và cái kiến thức này nó hoàn toàn bao phủ chân lư của vũ trụ này.  Dưới những t́nh huống như thế – mọi người hăy suy nghĩ – nếu ai muốn nói về chân lư của vũ trụ, khoa học này có chấp nhận không?  Cái khoa học này đă h́nh thành một môi trường, chắc chắn là nó chống lại.  Đó là tại sao khi những ǵ của tầng thứ cao hơn được nêu lên, nó sẽ nói rằng chư vị tin tưởng mù quáng.  Sự việc là như thế.

 

Nhiều người v́ thế mà đă h́nh thành khái niệm cố định.  Nếu con người của các thế hệ trước mà đă quy định luật lệ và quy luật, như là thuyết tương đối của Einstein, con người lại xem nó là một loại khoa học tối cao.  Tư tưởng của người thế hệ sau này bị hạn chế trong phạm vi của những điều này, nếu ai dám suy nghĩ cao hơn hay có ư vượt qua những ǵ họ nghiên cứu, tức khắc sẽ có người nói “Quư vị thật sự hơn được Einstein sao?”  Tại sao thế?  Môi trường vật chất hiện hữu của khoa học theo lối kinh nghiệm hiện đại đang ước chế con người.  Nếu một khoa học gia nổi tiếng mà hiểu biết vượt hơn hiểu biết của các thế hệ trước đây, vị ấy sẽ phát hiện hiểu biết của các thế hệ trước đây là thật và đúng trong phạm vi của những hiểu biết đó, hễ ai mà vượt qua những hiểu biết đó, th́ vị ấy cho là nó không đúng, đó là để hạn chế con người.  Một người thật sự thành công mà biết tự ḿnh suy nghĩ th́ họ dám vượt qua.  Chư vị thật sự sẽ đạt được một điều khi chư vị đột phá các quy ước mà người khác đặt định ra. (Vỗ tay)

 

Học viên:  Chúng con dự định xếp đặt các bài kinh văn theo thứ tự thời gian.  Thưa có được không?

 

Thầy:  Được.  Cái chữ “kinh văn” không có hàm nghĩa đặc biệt ǵ.  Ư nghĩa nguyên sơ của danh từ kinh văn có ư nghĩ là để học và đọc thường xuyên.  Các bài thường được tham khảo gọi là “kinh văn”.

 

Học viên:  Một con beo th́nh ĺnh hiện ra trong khi con ngồi thiền.  Con beo đó là ǵ?

 

Thầy:  Bởi v́ chư vị muốn thiền, nên nó t́m cách can nhiễu chư vị.  Đừng sợ nó – không có ǵ hại chư vị được.   Từ khi  tôi bắt đầu làm sự việc này, tôi vốn có trách nhiệm với người tu luyện.  Bảo đảm là thế.  Có rất nhiều người học và không ai bị rắc rối ǵ.  Nhưng có một điều là: chư vị phải tự xem ḿnh là người tu luyện.  Không được nếu chư vị sợ, v́ sợ chính là một tâm chấp trước của con người cần phải buông bỏ. 

 

Học viên:  Thầy Lư, chúng con đọc sách Pháp Luân Công Trung Quốc: rằng tập bài thứ nhất 3 lần, từ đó chúng con đă tập mỗi bài 3 lần.  Nhưng tại sao các động tác tay đưa lên xuống và bài Pháp Luân Châu Thiên Pháp th́ không tập 3 lần [thay v́ 9 lần]?

 

Thầy:  Tôi nói rằng công pháp này rất giản dị.  Nếu chư vị có th́ giờ chư vị có thể tập thêm, và nếu chư vị không có th́ giờ th́ tập ít lại.  Nếu hôm nay chư vị bận rộn và chỉ có th́ giờ tập một bài th́ cũng được.  Khi chư vị không có th́ giờ hay nếu chư vị có đủ th́ giờ để tập chỉ một bài, th́ cứ tập một bài.  Và khi chư vị có nhiều th́ giờ hơn chư vị có thể tập thêm.  Nhưng mỗi lần tập xong 9 lần liên tiếp th́ chư vị nên ngừng lại, và đó có nghĩa là chư vị không nên tập bài đó tiếp thêm nữa.  Theo cách này là tốt hơn.  Môn tu luyện mà tôi dạy th́ khác với các môn tu luyện khác.  Với các môn tu luyện khác, khi chư vị tập các bài công pháp th́ công pháp mở ra, và khi chư vị không tập th́ nó ngừng và không c̣n hoạt động nữa.  Trong công pháp chúng ta người tu luyện được luyện 24 giờ trong ngày, và nó được gọi là “Pháp luyện người tu”.  Chư vị tập các bài công pháp để làm ǵ?  Chính là chư vị đang gia tŕ các cơ chế mà tôi đă hạ nhập trong người chư vị.  Tại sao tôi bảo là phải tập các động tác theo các cơ chế?  Trong khi tập các bài công pháp, năng lượng trong tay của chư vị sẽ gia tăng, và người tu luyện đang gia tŕ các cơ chế đó.  Gia tŕ như thế th́ cơ chế càng mạnh mẽ hơn.  Cho nên các cơ chế đó sẽ tự động hướng dẫn các động tác của chư vị.

 

Học viên:  Thưa học Pháp thế nào là tốt nhất?  Con chỉ đọc sách hay viết xuống [bằng tay] trong khi đọc sách, hay chỉ viết lại quyển sách?

 

Thầy:  Ở Trung Hoa Lục Địa có nhiều người thuộc ḷng quyển sách, nhiều người đă viết lại.  Cũng có một số người không thuộc được, cho nên họ chỉ đọc thường xuyên.  Cách nào cũng được.  Những người mà đă thuộc sách rồi phát hiện rằng khi nào họ gặp rắc rối, lập tức họ nhớ Pháp.  Có nghĩa là họ sẽ không xử lư sự việc sai.  Viết lại cũng giúp chư vị hiểu biết thâm xâu hơn.  Mục đích đọc sách thường xuyên là giúp chư vị hiểu biết thâm xâu hơn và giúp chư vị liên tục đề cao.

 

Học viên:  Thưa Thầy, chúng con cảm thấy gọi Thầy bằng “Thầy” là không đúng.  “Thầy” dường như là danh từ quá b́nh thường, cho nên con nghĩ rằng có lẽ Thầy bảo chúng con gọi Thầy bằng “Thầy” bởi v́ các t́nh huống ở Trung Hoa Lục Địa.  Cho nên ở đây chúng con sẽ “Chào Sư Phụ”.  C̣n những người trong Phật Giáo cảm thấy tiếng Sư Phụ là cao hơn chúng con, cho nên không nên gọi bằng “Thầy”.

 

Thầy:  Cám ơn chư vị.  Thật ra, chư vị gọi tôi là ǵ cũng được, là Thầy, là Sư Phụ, hay gọi tên của tôi.  Tất cả đều được hết.  Tại sao tôi bảo chư vị gọi tôi thế nào cũng được?  Bởi v́ xă hội ngày nay đă bị hỗn loạn v́ những kẻ lừa dối.  Một số tự gọi là Phật, một số tự gọi là Phật sống, một số tự gọi là Đại Sư, và một số tự gọi là lănh đạo tôn giáo.  Tuy nhiên, chẳng phải tất cả những người đó là đang truy cầu danh lợi hay sao?  Tôi nói rằng chư vị gọi tôi thế nào chư vị muốn.  Gọi tôi bằng “Thầy” không có ǵ sai.   Tôi không muốn những danh hiệu này, tôi không truy cầu những điều đó.  Nhưng tất nhiên, nếu chư vị là học viên của tôi, muốn tỏ sự kính trọng tôi và cảm thấy rằng Thầy của chư vị thật sự đang cứu độ chư vị và giúp chư vị, và v́ lư do đó mà chư vị muốn gọi tôi theo cách nào đó, th́ đó là tùy chư vị.  Gọi tôi bằng “Thầy”, tôi cảm thấy là được rồi.

 

Học viên:  C̣n một điều nữa là, vừa qua Thầy giảng “Đừng làm v́ tiền”.  Điều này khiến cho con cảm thấy đây là một vị Phật thật.  Tất nhiên, Thầy không nói trong sách rằng Thầy là một vị Phật, nhưng con cảm thấy khi chúng con tu luyện Phật Giáo chúng con chưa bao giờ gặp một vị Sư Phụ giác ngộ như Thầy, người mà có thể chỉ đạo.  Cho nên con nói với người khác “Quư vị t́m đâu ra một người không tính tiền và c̣n chỉ đạo chư vị tu luyện và tiêu trừ nghiệp cho quư vị?  Quư vị có bao giờ gặp một người như thế không?”  Tại sao con nói ra điều này bây giờ?  Đó là v́ Thầy của chúng con là người bảo hộ một người thật sự đến đây để chỉ đạo chúng con tu luyện, cho nên con không quan tâm về những ǵ con đă học trong quá khứ nữa.  Con nghĩ rằng trong những người có mặt tại đây cũng đă từng là tín đồ của Phật Giáo, có nhiều tu sĩ Phật Giáo, cũng có những người học các môn khác.  Nhưng con nghĩ rằng, kể từ hôm nay chúng con phải đối xử với Sư Phụ giác ngộ của chúng con là Thầy thật sự của chúng con, người mà chỉ đạo chúng con tu luyện và chúng con không nên học những ǵ khác.  Tất nhiên, con không dám nói với người khác, nhưng ít nhất con cũng nghĩ như thế, bởi v́ Thầy đă đến đây hôm nay, những lời này diễn tả những ǵ con môn muốn diễn tả từ bao nhiêu năm qua và hôm nay cuối cùng hôm nay con đă nói ra.

 

Con muốn tu luyện lên các tầng thứ cao trong suốt cuộc đờI này, nhưng chưa t́m ra một pháp môn thích đáng.  Con đă học Mật Tông Tây Tạng và học số công pháp khác.  Thậm chí con c̣n chính thức là đệ tử của một vị đại sư.  Nhưng sau đó con cảm thấy con vẫn là con và không cảm thấy ǵ cả.  Tuy nhiên sau khi nghe Thầy giảng Pháp, con có thể nói rằng Pháp của Thầy truyền là Phật Pháp.  Khi con đi xem bài giảng trong băng thu h́nh trong ngày đầu tiên, Thầy giảng “miễn là chư vị chân chính tu luyện….” con nói với máy truyền h́nh “Tôi muốn tu luyện một cách chân chính” nhưng con hy vọng là Thầy sẽ đến Mỹ bởi v́ tất cả chúng con có mặt tại đây hôm nay đă hy vọng rằng Thầy sẽ đến.  Cho nên con mong rằng Thầy sẽ giúp cho chúng con giác ngộ thêm nữa và giảng thêm cho chúng con những ǵ chúng con cần phải chú ư tại đây ở San Francisco.  Con chân thành hy vọng như thế. (Vỗ tay)

 

          Có nhiều cư sĩ Phật Giáo và họ bị khó khăn không bỏ được những ǵ họ đă học các môn khác.  Cho nên chúng con có một trách nhiệm là phải giúp họ.  Nhưng có một câu hỏi là, con muốn hỏi Thầy trực tiếp rằng, tức là: có một người đă từng là cư sĩ Phật Giáo, họ đọc kinh và thờ Phật rất nhiều năm rồi.  Họ nói rằng mỗi khi họ đọc kinh (Kinh Phật cổ) họ ngửi thấy một mùi hương tỏa ra, nhưng khi đọc sách Pháp Luân Công th́ ngửi thấy một mùi lạ.  Thầy đang ở đây hôm nay, bởi v́ con không ngửi thấy mùi ǵ hay cũng không thấy được điều ǵ, thưa Thầy giảng một chút về điều này.

 

Thầy:  Thôi được.  Sự thật là, trong thời Mạt Pháp, chư Phật chân chính không c̣n trông nom sự việc trong thế giới này.  Nhưng rất nhiều thú vật mà đă đạt được năng lực ḅ vào các tượng Phật và khiến cho con người thờ phụng chúng.  Chúng giúp người ta làm một chút ít điều ǵ đó hay giúp họ một chút.  Hễ người này thật sự muốn tu luyện, những thứ đó sẽ can nhiễu.  Ví dụ, một số người nói rằng, tập công nào đó th́ có mùi hương, nhưng thực tế th́ cái mùi đó phát ra từ những con chồn cáo.  Mùi th́ khác trong hai không gian: nó là mùi hương ở bên này, nhưng bên kia là mùi hôi.  Chân lư đăo ngược trong nhân thế, tất cả mọi thứ khác cũng thế.  Mùi hương đối với con người thật sự là hơi độc đối với Phật.  Nó muốn ngăn chận không cho chư vị học Đại Pháp, cho nên nó cố t́nh can nhiễu bằng cách phát ra mùi hôi đó.

 

Đây là điều tôi nghĩ.  Các học viên chúng ta ở San Franscisco, không những chỉ chú tâm vào San Francisco, mà toàn nước Mỹ cũng thế.  C̣n về tu luyện như thế nào, chỉ chú tâm vào một h́nh thức này thôi.  Tôi làm những ǵ tôi đang làm chính là để lưu lại một con đường cho các thế hệ tương lai, và họ sẽ theo cách này mà làm.  Giả thử mà tôi muốn điều khác, th́ tôi đă giảng Pháp trong chùa và đă thành một ḥa thượng rồi.  Nhưng làm một ḥa thượng cũng không được.  Các tôn giáo không c̣n giúp con người đắc Pháp trên diện rộng hơn.  Tôi đă chọn h́nh thức này cho con người tu luyện, v́ thế chư vị phải tiếp tục tu luyện theo cách này.  Nó không như thể là: hễ một người tu pháp môn của tôi th́ họ phải theo các luật lệ và nghi thức đủ loại.  Làm thế là không tốt.  Nếu ai muốn học, th́ họ cần được phép có một tiến tŕnh để hiểu biết.  Nếu ai biết pháp môn này là tốt, cứ bảo họ chỉ cần đọc sách.  Khi hiểu biết của họ gia tăng, tự động họ sẽ chuyên tâm xử lư mọi thứ tốt hơn.  Trong khía cạnh này th́ những điều này dễ dàng hơn cho các cư sĩ Phật Giáo.  Các ḥa thượng th́ ở trong một hoàn cảnh đáng thương nhất, bởi v́ họ hoàn toàn bị h́nh thức tôn giáo ngăn chận họ, đến độ mà họ không gặp được Pháp, họ cũng không dám đụng đến Pháp.

 

Học Viên:  Thưa Thầy, con có hai câu hỏi.  Câu thứ nhất: v́ cơ duyên mà Thầy đă đến đây và gặp chúng con.  Thầy nói rằng Thầy có cơ duyên với chúng con.  Vậy, Thầy nghĩ thế nào về tầng thứ của chúng con, tức là, là một nhóm học viên?  Chúng con nhóm này có tu thành trong pháp môn này và đạt Viên Măn không?

 

Thầy:  Để tôi nói với chư vị, mọi người ngồi đây lẫn cả các trẻ em, tức là, miễn chư vị tu luyện được, con đường mà tôi an bài chư vị sẽ tiến đến Viên Măn.  (Vỗ tay) Nhưng đừng hoan hĩ quá vội.  Đối với tu luyện, Sư Phụ dẫn chư vị vào cửa, c̣n tu luyện th́ c̣n tùy vào cá nhân chư vị.  Tôi đă an bài tất cả cho chư vị rồi, tôi có thể bảo hộ chư vị, gia tŕ chư vị, và chuyển hóa công cho chư vị tăng lên các tầng thứ mới.  Nhưng về việc tu luyện cái tâm của chư vị, đó là c̣n tùy vào cá nhân chư vị.  Khi chư vị bị khó khăn ǵ và trải qua khảo nghiệm ǵ, chư vị có chịu đựng được hay không và có vượt qua được hay không, hoàn toàn là tùy vào cá nhân chư vị.  Tất nhiên, khi chư vị thật sự không vượt qua nổi, tôi sẽ chỉ điểm chư vị.  Lúc ấy, tôi chỉ lo rằng tư tưởng của chư vị quá cực đoan mà không tỉnh thức được cho dù tôi cố gắng chỉ điểm thế nào, v́ thế mà rắc rối xẩy ra.  Tôi có thể nói với chư vị rằng, khi chư vị không vượt qua khảo nghiệm, và chư vị nghe điều ǵ trong tai chư vị, đó chính là Pháp Thân của tôi đang dùng những lời rầy la chư vị và bảo chư vị điều ǵ.  Khó mà vượt qua khảo nghiệm, nhưng hễ chư vị vượt qua được rồi và nh́n lại, chư vị sẽ phát hiện khảo nghiệm đó không là ǵ cả, và chư vị c̣n thấy làm lạ tại sao lúc ấy chư vị quá chấp chước vào thứ đó.  Khi chư vị thật sự vượt qua được rồi, bảo đảm tâm tính của chư vị sẽ đề cao và nghiệp của chư vị sẽ được tiêu trừ.  Nếu rắc rối mà chư vị gặp là do người khác gây ra, th́ họ sẽ trao đức của họ cho chư vị.  V́ thế mà tôi bảo với chư vị rằng: chịu  khổ không phải là điều không tốt.  Chỉ có con người mới nghĩ rằng chịu khổ là điều không tốt, rằng một đời đau khổ là một đời không hạnh phúc.  Tuy thế đối với người tu luyện, đau khổ không những tiêu trừ nghiệp mà c̣n đề cao tầng thứ của một người và đưa đến Viên Măn.  Nếu chư vị nói rằng tôi chỉ muốn hạnh phức nơi người thường, rằng chư vị không muốn một chút đau khổ nào, chỉ muốn tập luyện trong thoải mái, vậy th́ nghiệp của chư vị không tiêu trừ được, tâm tính của chư vị cũng không đề cao, và chư vị sẽ không đạt Viên Măn.  Ư nghĩa là thế.

 

Dù rằng tôi giảng những ǵ tôi đă giảng, Pháp lư cũng đă giảng rơ cho chư vị rồi, khi nói đến chịu khổ, có thể chư vị cũng không chịu đựng nổi.  Tôi đă nói sự thật với mọi người trước đây.  Tại sao chư Phật có rất nhiều phúc lành?  Các vị ấy được hạnh phúc và trường trọ  Đó chính là v́ các vị ấy càng chịu khổ bao nhiêu, th́ sẽ được hưởng phúc lành bấy nhiêu.  Hôm nay nếu tôi bảo tất cả chư vị mà đang ngồi đây hôm nay là phải trải qua nhiều đau khổ như thế, không ai trong chư vị sẽ đạt Viên Măn.  Tại một tầng thứ căn bản, miễn là chư vị thật sự quyết tâm tu luyện, Sư Phụ sẽ giúp chư vị tiêu trừ thêm nghiệp của chư vị.  Những ǵ tôi giảng vừa qua sáng nay cũng thế: có thể chư vị đă chịu khổ bao nhiêu đời rồi, để mà đắc được Pháp này.  Nhiều người thật sự đă đến để được đắc Pháp, cho nên họ đă phải chịu khổ từ lâu lắm rồi.  Hôm nay, chư vị c̣n thiếu ǵ nữa đây?  Chỉ có một điều là: chỗ buông bỏ chấp chước của con người, chư vị c̣n thiếu sót.  Cái khổ mà tôi nói chủ yếu chính là cái khổ kèm theo với việc chư vị buông bỏ chấp trước của bản thân chư vị. 

  

Bản tiếng Anh tại địa chỉ:

http://www.falundafa.org/book/eng/doc/sf1996.doc

Dịch ngày 29 tháng 01 năm 2008

Để chỉnh nghĩa đúng hơn, bản dịch có thể được hiệu chỉnh lại trong tương lai.

 

www.thuviendaiphap.com